Thông tư mới cởi trói cho DN về trích lập dự phòng phải thu khó đòi


Ngày đăng: 06/09/2019

Thông tư số 48/2019/TT-BTC ban hành ngày 08 tháng 08 năm 2019 hướng dẫn trích lập các Khoản dự phòng đã thực sự cởi trói cho doanh nghiệp trong việc đơn giản hóa cách xác định các khoản nợ phải thu khó đòi, thay thế cho Thông tư 228/2009/TT-BTC. Thay vì chứng minh “khách hàng không có khả năng thanh toán”, khái niệm mới định nghĩa nợ phải thu khó đòi là “Khoản phải thu có khả năng không thu hồi được đúng hạn”.

 

Cụ thể về những sửa đổi trong quy định trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, theo Khoản 3, Điều 2:

“3. Dự phòng nợ phải thu khó đòi: là dự phòng phần giá trị tổn thất của các khoản nợ phải thu đã quá hạn thanh toán và khoản nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán nhưng có khả năng không thu hồi được đúng hạn.”

Như vậy với khái niệm mới này, Doanh nghiệp sẽ dễ dàng xác định các Khoản phải thu thuộc diện phải trích lập dự phòng, đó là “Khoản phải thu có khả năng không thu hồi được đúng hạn” thay vì chứng minh “khách hàng không có khả năng thanh toán” như quy định tại Thông tư số 228.

Đối tượng lập dự phòng cũng được quy định rõ hơn, bao gồm cả các Khoản doanh nghiệp đang cho vay và Khoản trái phiếu chưa đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoán mà doanh nghiệp đang sở hữu (Khoản 1, Điều 6). Cũng tại Khoản 1, Điều 6 này, Thông tư đã quy định rõ:

  • Căn cứ để xác định là Khoản nợ phải thu khó đòi;
  • Các điều kiện đảm bảo làm căn cứ trích lập dự phòng các Khoản phải thu. Trong đó, một hướng dẫn mang tính thực tiễn cao đã cởi trói cho Doanh nghiệp là trường hợp không có đối chiếu công nợ thì phải có văn bản đề nghị đối chiếu xác nhận công nợ hoặc văn bản đòi nợ do doanh nghiệp đã gửi (có dấu bưu điện hoặc xác nhận của đơn vị chuyển phát).

 

Ngoài nội dung trích lập dự phòng nợ phải thu khó đòi, Thông tư còn có một số sửa đổi, bổ sung đáng chú ý khác.

Về dự phòng giảm giá hàng tồn kho, Thông tư bổ sung sửa đổi đối tượng trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho bao gồm cả hàng mua đang đi đường, hàng gửi đi bán, hàng hoá kho bảo thuế; bỏ sản phẩm hàng hoá dịch vụ dở dang (Khoản 1, Điều 4).

Về dự phòng giảm giá các Khoản đầu tư, phạm vi đối tượng phải trích lập được mở rộng áp dụng cho cả các Khoản đầu tư khác của Doanh nghiệp bị suy giảm giá trị (Điều 2). Hơn nữa, thay vì tính mức trích lập dựa trên danh mục các chứng khoán bị suy giảm giá trị, Thông tư mới quy định mức trích lập dự phòng cho các khoản đầu tư chứng khoán được tính trên toàn bộ giá trị đầu tư tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm và giá trị thực tế theo thị trường (Điều 5).


Bài viết liên quan
Người lao động nước ngoài có cần xin giấy phép lao động tại Việt Nam không?

Người lao động nước ngoài có cần xin giấy phép lao động tại Việt Nam không?

Khi doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng người lao động nước ngoài, "giấy phép lao động" có phải là chứng...
Xem tiếp
Giá trị còn lại của TSCĐ sau dỡ bỏ có được trừ khi tính thuế TNDN?

Giá trị còn lại của TSCĐ sau dỡ bỏ có được trừ khi tính thuế TNDN?

Phần giá trị còn lại của TSCĐ sau khi phá dỡ, dỡ bỏ được hạch toán như thế nào? Phần chênh lệch này có...
Xem tiếp
Các khoản đầu tư ra nước ngoài KHÔNG được trích lập dự phòng tổn thất

Các khoản đầu tư ra nước ngoài KHÔNG được trích lập dự phòng tổn thất

Theo Thông tư số 48/2019/TT-BTC ban hành ngày 08 tháng 08 năm 2019 hướng dẫn trích lập các Khoản dự phòng...
Xem tiếp
Chế độ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ

Chế độ kế toán cho doanh nghiệp siêu nhỏ

Thông tư số 132/2018/TT-BTC ngày 28/12/2018 của Bộ Tài chính hướng dẫn Chế độ kế toán cho doanh nghiệp...
Xem tiếp
Tỷ lệ trích các khoản theo lương năm 2019

Tỷ lệ trích các khoản theo lương năm 2019

1. Tỷ lệ các khoản trích Bảo hiểm năm 2019 cụ thể như sau: Các khoản trích theo lương Trích...
Xem tiếp
To-Do-List của kế toán cuối năm để kiểm tra sổ sách một cách nhẹ nhàng

To-Do-List của kế toán cuối năm để kiểm tra sổ sách một cách nhẹ nhàng

Thời điểm cuối của năm tài chính, Kế toán thực sự cần phải chú trọng trong việc kiểm tra sổ sách để hoàn...
Xem tiếp
X